Lan kí xuân phu, cúc hựu thu vinh
Mùa thu cùng năm, Trịnh vương và Tề vương hồi kinh thuật chức[1], hợp sức với Tương Lăng đại công chúa, nội ứng ngoại hợp tạo phản sinh biến, xúi giục tướng lĩnh cánh tả Thượng Trực vệ, mưu đồ hợp binh hai vạn người bức Tân đế thoái vị. Mật thám quân cơ báo về kịp thời, chặn đứng ngay dưới chân núi Lạc Nhạn. Trịnh vương Tề vương, Tương Lăng và Phò mã bị ban rượu độc, thê thiếp sung vào dịch đình, Tướng quân Thượng Trực vệ bị chém đầu thị chúng, răn thần tử lấy đó mà làm gương.
[1] Phiên vương hồi kinh báo cáo.
Năm sau đó, kiến hiệu Cảnh Ninh nguyên niên.[2]
[2] Năm Cảnh Ninh đầu tiên gọi là ‘nguyên niên’.
Mùa xuân năm Cảnh Ninh nguyên niên, tổ chức khoa cử, chiêu hiền đãi sĩ, Hàn Lâm viện Yến Kinh tấp nập đông đúc.
Năm Cảnh Ninh thứ Ba, Phương trượng Báo Quốc tự Liễu Trần xuất quan, đệ tử Liễu Duyên kể lại đầu đuôi sự tình, Liễu Trần đại sư cảm thán ba tiếng. Cùng đêm ấy, đại sư viên tịch tại chùa, khi tạ thế dung nhan hồng hào như cũ, người nghe cũng lấy làm kỳ lạ.
Mùa đông năm Cảnh Ninh thứ Tư, Ô Thát Khả Hãn thống nhất Mạc Bắc, dẫn binh quấy nhiễu biên cảnh, hiển nhiên là dấy lên nạn binh đao.
Năm Cảnh Ninh thứ Năm, Chỉ huy sứ Lương Châu vệ Nhan Tông Hồi tạm lĩnh hàm Chinh Bắc tướng quân, cùng Binh bộ Thượng thư Nhạc Mậu phụng chỉ đốc quân, suất binh tiến Bắc. Giao chiến ác liệt mấy tháng, quân Ô Thát bại trận, đình chiến xin hàng tại ghềnh Ngư Nhi.
Cuối năm Cảnh Ninh thứ Năm, Chỉ huy sứ Lương Châu vệ Nhan Tông Hồi chết bệnh trên đường khải hoàn hồi kinh, trưởng tử Nhan Mục tiếp quản Lương Châu vệ.
Năm Cảnh Ninh thứ Sáu, bạch thương tố tiết.[3]
[3]: (Cổ văn) Chỉ mùa thu.
Lan kí xuân phu, cúc hựu thu vinh.[4] Biệt viện nơi ngoại ô kinh thành của An Quốc công, trúc xanh dọc bờ, cúc thu quanh vườn, gió mát se lạnh, tiệc rượu ấm áp.
[4] Bài ‘Lan Xác Minh’ của Vương Thục Chi thời Tấn: Lan kí xuân phu, cúc hựu thu vinh. Phương huân bách thảo, sắc diễm quần anh. Thục thị phương chất, tại u dũ hinh.
Mừng thọ năm mươi tuổi, bách quan tề tụ, phủ đệ đón khách quý.
Trong phòng khách, An Quốc công Tiêu Thận ngồi trên chủ tọa, phu nhân ngồi bên, hai hàng phía dưới phân theo phận trưởng ấu, dòng chính thứ. Đại sảnh đã không còn chỗ ngồi, gia nhân bèn ra đại môn nhận phẩm lễ của khách quý, tiếng thông truyền không ngớt, náo nhiệt vô cùng.
Trước khi yến mở, Hoàng đế và Thái hậu đã cho người mang lễ tới, vô cùng quý trọng.
An Quốc công dẫn gia quyến ra cửa nhận thánh ân, quỳ gối bái tạ.
Người tới làm khách, hoặc là giao tình thâm sâu với chủ yến, hoặc là muốn lấy lòng. Người không tới làm khách, hoặc là không thân thiết qua lại với chủ yến, hoặc là lục đục không vừa mắt. Triều thần tới đây cũng mang theo cả mấy phần ý tứ dò xét, ai nấy như có như không mà lắng tai nghe tiếng thông truyền.
Một lát sau, gia nhân đi vào, báo rằng đã hết khách tới.
Mọi người nhìn nhau, âm thầm trao đổi ánh mắt: Tại sao Nhan Ung không tới?
Hơn sáu năm trước, Nhan Ung và Nhan Tốn nảy sinh bất hòa, mấy năm trôi qua kẽ hở giữa hai huynh đệ không những không thể lấp lại, mà còn càng ngày càng sâu. Hộ bộ Thượng thư Nhan Linh ban đầu còn muốn đứng ra hòa giải, giúp hai vị huynh trưởng buông bỏ thành kiến, nhưng rồi hắn cũng biết mình là bậc dưới, lời nói ra cũng chẳng có mấy phần sức nặng. Lâu ngày không khuyên nhủ được, hắn đành từ bỏ buông xuôi.
Vậy nên, là đường huynh đường đệ, chưa tới nỗi trở mặt thành thù, nhưng cũng đã đến mức đối chọi gay gắt. Năm xưa Nhan Ung mượn hôn sự của nhi tử để quy hàng với Hoàng thất, trò cũ lặp lại, ước chừng hơn một năm trước đã kết thông gia với Tiêu Thận.
Huynh đệ ly tâm, thủ túc tương tàn còn nói gì đến mưu bàn đại sự? Bá phụ Nhan Tông Hồi đã mất, Nhan Mục tiếp quản Lương Châu vệ, lòng trung với triều đình như một, tận tâm tận lực, không có nửa phần hai lòng. Đến đây, giấc mộng hoàng quyền của Nhan Tốn coi như đã hóa thành mây khói. Trên dưới Nhan thị e rằng cũng chỉ còn một mình hắn cố chấp không buông mà thôi.
Làm người không thể không có ước mơ, nhưng cũng không thể nào ôm một giấc mơ quá đỗi hoang đường, nếu không đến ngày thất bại, ắt sẽ buồn bực sầu não đến vong mạng. Năm xưa có Võ Thừa Tự thời Võ Chu, nay có Nhan Tốn, rồi cũng trở thành trò cười cho hậu thế.
Ngày Tả tướng Tiêu Thận mở yến mừng thọ năm mươi, Nhan Tốn chết bất đắc kỳ tử ngay trong phủ đệ. Sử ghi – Trúng độc mà chết.
Bổn gia Nhan thị ở Kim Lăng, ở Yến Kinh này Nhan Ung là lớn nhất, đương nhiên phải là hắn đứng ra xử lý thu xếp hậu sự, không thể tới dự tiệc.
– —
Tuyên Thất điện.
Quan lễ phụng mệnh đưa quà tới Tiêu phủ đã trở lại, lúc này đang hồi bẩm trước Ngự tiền, báo lại chư công trong triều ai tới ai không tới, người nào tặng ít lễ người nào tặng nhiều. Cuối cùng, kể lại chuyện Nhan Tốn chết bất đắc kỳ tử. Nhan Tốn là quốc cữu, lại là trọng thần, quan lễ tưởng rằng Hoàng đế sẽ đau buồn bi thương, liền vận công phu diễn trò, chảy mấy giọt nước mắt, vừa kể vừa nghẹn ngào không chịu nổi.
Hoàng đế ngồi sau án, tay cầm ngự bút, cúi đầu phê tấu chương. Quan lễ ở phía dưới ra sức kể lể, nàng ngồi trên này chuyên chú vào công văn, như thể chưa từng nghe được lời bên tai. Chỉ là khi hai chữ ‘Nhan tướng’ kia vừa thốt ra, đầu mày vốn đang bằng phẳng đã khẽ nhíu lại, tỏa ra một cỗ lạnh lẽo.
Người hầu cận bên Ngự tiền, như Trì Tái và Thanh Đại đây, không dám nói hiểu được quân tâm, nhưng ít nhất có thể đọc được sắc mặt của Đế vương. Tên quan lễ này quá sức ngu ngốc, Nhan Tốn chết ở phủ đệ ngay giữa Yến Kinh, hắn nghe được chuyện từ phủ đệ của An Quốc công tận ngoại ô kinh thành, Hoàng đế há lại cần hắn tới bẩm?
Tuyên Thất điện yên lặng im ắng, chỉ có tiếng của quan lễ nghẹn ngào, trình diễn một màn, tới khi hạ ống tay áo xuống đã thấy Hoàng đế đang lẳng lặng nhìn mình.
Đôi mắt kia sáng tối bất phân, sắc bén đến mức như có thể nhìn xuyên qua hắn, thấu triệt ý đồ của người đối diện. Hắn bị một ánh mắt như thế chiếu vào, chợt cảm thấy mình giống miếng thịt trên thớt, tùy ý người ta chặt chém, nhất thời đứng ngồi không yên, hai chân nhũn ra, quỳ rạp trên đất: “Bệ hạ…”
Chẳng mấy chốc, hắn nhận ra hắn đã phạm phải điều mà Quân vương tối kị. Hoàng đế không cần người lắm miệng, càng không cần người thích phỏng đoán thánh ý. Lúc này hắn lấy lòng Hoàng đế mà rơi lệ khóc lóc, ngày sau cũng sẽ vì lấy lòng người khác mà nói ra chuyện cơ mật trước Ngự tiền.
Quan lễ thấp thỏm lo sợ, không đứng dậy nổi. Ấy thế mà khi nãy hắn đã quên mất vị ngồi trên kia không phải là một tiểu thư tràn đầy thanh xuân nhà khuê các danh môn, mà là Hoàng đế. Cái gọi là quân uy, thứ ấy tích lũy qua ngày qua tháng, mặc dù thường ngày chiêu hiền đãi sĩ, một bộ dáng dịu dàng điềm đạm, ôn nhuận như ngọc, nhưng khi cơn giận đã lên, sao có thể đối phó được?
Thấy Hoàng đế cho thản nhiên nhìn sang Trì Tái, hắn liền phất tay, quan lễ kia đã bị kéo xuống lập tức.
Còn sau đó, sống hay là chết, ai ngờ được?
Đêm thu.
Đêm đã vào khuya, trời đã trở lạnh. Thanh Đại dẫn vài cung nga tới đóng hết các cửa sổ. Lát sau, nàng tới trước án, quét mắt nhìn tấu chương chất trên án, lên tiếng khuyên nhủ: “Bệ hạ, đã gần tới giờ Hợi, tốt xấu gì… cũng nên nghỉ ngơi một lát.” Nàng dừng một lát, lại nói thêm, “Nếu không sáng mai tới thỉnh an, Bệ hạ mệt mỏi tiều tụy, Điện hạ sẽ lo lắng.”
Thanh Đại rõ ràng vô cùng, lời mình nói ra chẳng có chút sức nặng. Mà nói gì nàng, cả tòa Cấm cung này, toàn bộ Yến Kinh – không, cả thiên hạ Đại Tấn này, chỉ có lời của Thái hậu mới có sức nặng đối với Hoàng đế.
Chính là, không dám không theo.
Quả nhiên, vừa nói xong, sườn mặt lạnh băng không chút biểu cảm kia đã giãn ra, như có làn gió xuân vừa thoảng qua đây, làm cho tuyết lạnh tan rã. Không nghe nàng nói đồng ý nghỉ ngơi hay là không đồng ý nghỉ ngơi, chỉ thấy nàng gác bút, khép tấu chương lại.
Cung nga dâng nước lên, nàng đứng dậy, ngâm tay vào ấy. Mặt nước trong vắt nổi lên từng đợt sóng.
Phong phạm trầm ổn, khí độ tao nhã, đều là Thái hậu dạy thành, từng cử chỉ đều vào khuôn phép, không hề có điểm đột ngột sai sót. Tỉ như rửa tay cũng vậy, chậm rãi từ tốn, nhẹ nhàng đến mức mặt nước chỉ gợn nhẹ mấy hồi, không có một giọt nước nhỏ bắn lên.
Thanh Đại túc trực sát bên, dâng khăn khô. Nàng cúi đầu xem Hoàng đế rửa tay, rồi đến lau tay, một đôi tay thon gầy, không nhìn ra được đôi tay bé nhỏ bụ bẫm của hơn sáu năm trở về trước. Ngưng mắt nhìn lại không tự chủ được mà nghĩ tới tay Thái hậu, bất giác âm thầm so sánh một chút, sau một chốc, rút ra kết luân – Ấy thế mà dường như lòng bàn tay Hoàng đế còn lớn hơn, ngón tay còn dài hơn tay Thái hậu.
“Thái hậu nơi đó đã nghỉ ngơi chưa?” Đồng hồ nước ở Cẩn Thân điện của Tiên đế đã chuyển tới Tuyên Thất điện từ lâu. Hoàng đế hỏi, liếc mắt nhìn về phía đồng hồ. Đêm đã khuya, nàng cũng không tiện qua.
Vốn là, Thái hậu tự biết cân bằng, giờ ăn giờ nghỉ đều rất có quy luật, nhưng từ ngày Đường Oanh đăng cơ, nàng thường xuyên thức trắng đêm duyệt sớ, suy nghĩ ngày đêm, nói ngắn gọn lại, chính là nếp sinh hoạt đã bị phá vỡ, bây giờ nghỉ ngơi cũng không còn có quy luật như xưa nữa.
Cho nên Hoàng đế mới hỏi như vậy.
Thanh Đại kính cẩn: “Vừa khi nãy Vị Ương cung đã cho cung nhân tới bẩm, Điện hạ đã nghỉ sớm rồi, Bệ hạ đừng lo lắng.” Hai người mặc dù là bận bịu vướng mắc nhiều chuyện, nhưng xem ra không khi nào không nghĩ đến nhau. Không cùng huyết thống mà tình nghĩa sâu nặng như vậy, có là huyết thống cũng hiếm thấy.
Hoàng đế gật đầu, cởi trường bào, vào ngự tháp. Màn lụa tơ vàng rủ xuống, chỉ giữ lại cung nga trực đêm. Đèn nến đã tắt, những người không phận sự thấp giọng cáo lui. Trong điện chỉ còn lại vài ngọn đèn le lói, ánh nên chập chờn, yếu ớt ảm đạm.
Đường Oanh nằm trên giường, nhớ lại bộ dạng tên quan lễ kia khóc lóc nghẹn ngào. Trong bóng đêm, ánh mắt nàng tỏa ra tia lạnh lẽo, thậm chí, hiện cả sát ý.
Nhan tướng? Chết rồi, chết rồi mới tốt.
Y chẩm sổ thu thiên, thiềm thừ hạ tảo huyền.[5]
[5] Câu thơ trong bài ‘Bồ Tát man’ – nghĩa, ‘Tựa gối đếm ngày trôi, trăng thu đầu tháng soi.’
– —
Vị Ương cung.
Đèn nến trong cung tẩm lờ mờ hư ảo, Nhẫn Đông nâng đèn đồng trên tay, ghé vào sát, ánh sáng rọi bốn phía xung quanh.
Trên giường, Thái hậu tựa lưng trên gối, tóc đen như mực buông thả như thác đổ. Khuôn mặt hiện rõ vẻ mệt mỏi, đèn đồng tỏa ra thứ ánh sáng mờ nhạt, chiếu lên da thịt trắng nõn như phủ men.
“Gần vào một chút.” Nàng cầm thư trên tay, thấp giọng nói một câu, đang đêm, giọng nói có chút không được trong trẻo như thường, nghe vào tại không hiểu sao lại mang theo tia mị hoặc.
Nghe vậy, Nhẫn Đông đưa tay che đi ngọn đèn yếu ớt, tiến mấy bước vào sát bên giường, liếc mắt nhìn qua bức thư, lúc này lo lắng trong lòng mới tan thành mây khói. Nàng cười nói: “Chữ của lang quân thật như… rồng bay phượng múa, chẳng trách Điện hạ không nhìn rõ.”
Viết không nhiều, lời nào lời ấy ngắn gọn, đọc vào liền biết đầu đuôi, vừa đọc đã biết đây là một người ngay thẳng.
Thái hậu nở nụ cười, đặt bức thư xuống một bên: “Tốt xấu gì cũng đã có tin tức, còn chuyện gì, đợi gặp mặt rồi nói sau.” Đã tìm hắn sáu năm, bây giờ mới thấy tiếng. Nếu như nàng kém may mắn, sáu năm này có mệnh hệ gì, e rằng đã sớm thiên nhân vĩnh cách.
A huynh này, thật không đáng tin cậy.
Sáu năm qua đi, thế cục trong triều dần dần vững vàng, đảng phái đã bắt đầu khởi tranh. Triều thần xuất thân từ Nhan thị cũng đã thay đổi mấy hồi, nay Nhan Ung quy phục trước Hoàng thất, Nhan Tông Nhâm đã mất, nhi tử trung thành, Nhan Linh chỉ lo giữ mình. Chỉ còn một Nhan Tốn, thế lực đơn bạc, một trụ chẳng chống nổi nhà.
Nhẫn Đông sửa gối giúp Thái hậu nằm xuống, như nhớ tới điều gì, bỗng nói: “Nhan tướng… không phải loại người dễ dàng từ bỏ ý đồ. Đột tử như vậy…” Nàng dừng lại, không nói nữa.
Nguyên nhân thực sự, chân tướng đằng sau, khó mà nói ra được.
Hoàng đế vẫn chưa tự mình chấp chính, nhưng vai gánh chính sự suốt sáu năm, bây giờ thân tín tâm phúc đã không thiếu. Tai mắt khắp nơi, có mới cũng có cũ. Hiến Hoài thái tử năm ấy bỏ mạng ở Lãng Phong uyển là do trúng độc, Hoàng đế chưa từng quên đi, chưa từng bỏ qua.
Bất quá – Nhẫn Đông nắm lấy góc chăn, thầm nghĩ – Ấy là còn có một số chuyện Hoàng đế vẫn chưa biết.
Thái hậu nằm xuống an ổn, muốn nghỉ ngơi rồi, Nhẫn Đông nhỏ giọng cáo lui.
Nhan Tốn, đương nhiên là không phải vì uất giận buồn bực mà đột tử. Thử nghĩ xem, huynh đệ mâu thuẫn xung đột nhiều năm, cùng ở Nhan phủ, Nhan Ung biết rõ những chuyện Nhan Tốn đã làm khi xưa, biết hắn tàn nhẫn tuyệt tình, há lại có thể sống cho an ổn? Hiện tại cứ mỗi một việc xung đột đều sẽ khiến sự đề phòng nghi kị và cả bất an sợ hãi trong lòng Nhan Ung lớn thêm một chút. Vừa khéo, nay hắn trung với Hoàng đế, không phải với Nhan Tốn.
Hoàng đế đây là đang mượn đao giết người, giải được mối hận trong lòng, mà tay lại không hề dính một giọt máu.
Thái hậu nằm nghiêng, túi hương đặt bên gối, nhiều năm qua đi mùi hương đã trở nên nhạt nhòa. Nàng hít sâu, cảm được hương hoa loáng thoáng, trong tiềm thức lại hiện ra bộ dáng người kia khi còn đang nhỏ, hoạt bát đáng yêu.
Khóe môi cong cong, nàng khẽ cười.
Mèo nhỏ năm xưa, lớn lên biến thành một con hổ đầu đàn dũng mãnh rồi.
Bên ngoài rõ là bát diện uy phong, tới trước mặt nàng lại chỉ thiếu điều vẫy đuôi mừng chủ, không khác khi xưa là bao.
Vẫn nói ‘Bạch thủ như tân'[6], nhưng thực ra, có người, từ khi còn nhỏ đã cảm thấy thực tâm đắc vừa ý, ở bên càng lâu càng thấy khó bỏ khó phân, như thể là, dù có trải qua năm tháng dài đằng đẵng, cuối cùng lại thấy nhân sinh như lần đầu gặp gỡ, vẫn như ban đầu. Càng ở bên nhau lâu, càng cảm thấy mới mẻ.
[6] Câu này có nghĩa truyền thống để ám chỉ giao tình không sâu sắc, ý nói bạn bè mà không hiểu nhau thì dù có quen đến bạc đầu vẫn như mới gặp nhau. Như trên đây là tác giả giải thích theo một hướng phân tích mới.
—- Hết chương 34 —-
Editor lảm nhảm:
Hoàng đế đến trước Điện hạ từ con hổ thành con mèo thì Điện hạ giỏi rồi. Một thủ đoạn đoạt ngôi thuyết phục không ai lường tới được ????
Sai cũng đã sai, sửa cũng đã sửa,
chỉ cần ăn năn, không cần tự trách
Đại thần mà Tiên đế phó thác phò trợ Tân đế có Tiêu THận, Vương Bạc Viễn, Minh Ngạn, và Nhạc Mậu. Đế vương trẻ tuổi, cục diện vẫn như bao đời nay vẫn vậy – ba nhánh thế lực cùng nhau nắm giữ quyền lực – Hoàng đế, Thái hậu, và trọng thần. Mà xưa nay Hoàng đế và Thái hậu đồng tâm, tuy hai mà một, coi như cán cân quyền lực chỉ còn có hai đầu.
Trị quốc cũng như nấu một ngón ngon, đối nhân xử thế, dùng đạo quân thần, vừa thuộc bên lí mà cũng vừa thuộc bên tình. Như chuyện của Vương Bạc Viễn lần này, hắn bất mãn, cũng phần là vì tưởng rằng Tướng vị đã nằm trong bàn tay mình, Hoàng đế lại không báo trước, trao vật ấy cho Tô Nhiếp, dù có là an ủi bồi thường, vẫn cứ là lưu lại trong lòng hắn một vết đen.
Lúc này, Đường Oanh quỳ gối trên sàn, lưng vai thẳng tắp, như một thân tùng trúc xanh biếc giữa rừng. Đây là thái độ nhận sai nghiêm túc và chân thành, đầu còn cúi thấp, ánh mắt dán lên hoa văn trên nền sàn gỗ, hổ thẹn không thể ngẩng đầu.
Đối với nàng, công ơn dạy bảo dưỡng dục của Thái hậu cao như núi, chỉ cần nàng có một điểm khiến người này thất vọng, nàng sẽ tự trách, sẽ hổ thẹn vô cùng.
Đã rất lâu, rất lâu về trước, Đường Oanh nhớ mình từng nói nếu sau này có phạm phải sai lầm, nhất định sẽ chịu tội, sẽ nguyện ý cho Thái hậu trách phạt. Chỉ là, nay, nàng thân là Quân vương, có thế nào Thái hậu cũng sẽ không khiển trách nặng nề, hất đổ hết thể diện của nàng.
Thái độ thành khẩn thế kia, ngữ khí cũng nghiêm túc kiên định. Thái hậu vẫn đoan chính ngồi trên giường, lặng mắt mà nhìn, bỗng lại cảm thấy bộ dáng người kia thật giống như một con mèo bị mình đuổi ra khỏi cửa không cho vào, tới khi vào được, thậm chí còn bị xối một trận mưa, lông mao vốn đẹp đẽ, bây giờ ướt sũng hết cả, nhìn trái nhìn phải đều thấy thật đáng thương.
Rõ ràng chỉ là không cho tới một đêm mà thôi, chẳng lẽ quả thật như lời năm xưa nói, muốn dính lấy ta cả đời hay sao?
Mèo nuôi trong nhà, không chỉ cần cho ăn no, mà còn phải dỗ dành an ủi đấy.
Thái hậu đành đứng lên, tiến lên mấy bước, tới thật gần, vươn tay ra trước mắt người đang quỳ, âm thanh dịu dàng: “Ta cho ngươi quỳ khi nào? Đứng dậy.”
Đường Oanh ngẩng đầu, ánh mắt lấy lại tiêu điểm, chiếu tới đầu ngón tay như bạch ngọc đang vươn ra trước mắt mình, đột nhiên như bị xoáy sâu vào trong ấy, có lực hấp dẫn vô hình khiến cho nàng nhìn chăm chú, rồi đột nhiên giật mình. Nàng bỗng nhiên nhớ lại cảm giác ngày ấy, sáu năm về trước, cảnh tưởng hiện lên như ảo ảnh rồi liền tan biến, không níu giữ được, giống như vươn tay bắt gió, mở tay ra chỉ còn có hư không.
“Trường Canh?” Thái hậu nghi hoặc, gọi một tiếng.
Đường Oanh định thần, lại ngẩng đầu nhìn Thái hậu, rồi rất nhanh lại cúi đầu: “A nương…”
“Biết sai lại có thể sửa sai, không còn trông chờ gì nữa. Sai cũng đã sai, sửa cũng đã sửa, chỉ cần ăn năn, không cần tự trách.” Còn trẻ như vậy, cũng không thể nào lúc nào cũng chu toàn không sơ hở. Nàng buông mi nhìn người vẫn đang quỳ, dường như là không có ý muốn đứng lên, đành nói: “Còn không mau đứng dậy? Muốn ta ôm ngươi đứng dậy chăng?”
Thanh âm như gió mát thoảng bên tai, chỉ còn từ ‘ôm’ kia đọng lại, chui vào trong lòng Đường Oanh, giằng giằng co co, cuối cùng biến thành sắc hồng thấu trên sườn mặt. Nàng cúi thấp đầu, che đi sườn mặt đã hồng lên, lắc đầu: “Con tự đứng lên được.” Nói, nắm lấy tay Thái hậu, vịn vào ấy đứng lên. Nàng quỳ không lâu, hai đầu gối chỉ hơi tê dại.
Đứng lên rồi, ấy thế mà vẫn là một bộ dáng như đang đợi người phán xét, thấp giọng hỏi: “A nương, hôm qua an bài như vậy đã thỏa đáng hay chưa?”
Ước chừng một lát nữa là tới lúc thượng triều rồi. Thái hậu sửa lại nếp viên lĩnh, vuốt theo tà trường bào, lại vuốt bên tóc mai của Đường Oanh, lúc ấy mới nói: “Nếu còn chưa thỏa đáng, khi nãy ta lại cho ngươi vào đây hay sao?”
“Ngài cũng sẽ không để con đứng bên ngoài đâu, ngài sẽ đau lòng.”
Sáng sớm mùa thu, sương lạnh đêm qua còn chưa tan hết, Thái hậu quả là sẽ không nhẫn tâm bỏ mặc Hoàng đế đứng ngoài chịu gió lạnh.
Bản tính lại quay trở về rồi, Thái hậu liền quay về chính sự: “Việc này, suy cho cùng cũng là do ngươi không hiểu tính nết Vương Bạc Viễn. Nếu xét từ đầu tới cuối, cũng khó mà trách được ngươi, lòng người khó nắm bắt. Ta tiếp xúc với hắn nhiều hơn ngươi, cho nên cũng dễ nắm được điểm mấu chốt. Lần này sai lầm lớn nhất của ngươi là không hiểu lòng người, mà sai lầm này, chỉ có thể từ từ khắc phục sửa đổi.”
Đường Oanh gật đầu, đôi mắt hoa đào rốt cuộc mới buông lỏng: “Con ghi nhớ.”
Hai người vẫn nắm tay, lúc này Đường Oanh chợt phát hiện, bàn tay Thái hậu lạnh đến kỳ lạ.
Lập tức hỏi: “Sao tay của ngài lạnh như vậy? Thân thể có nơi nào không khỏe hay không?”
Nàng quan sát gương mặt người đối diện, đánh giá từng tấc, cũng không biết là thực tế như thế hay là do nàng bị tâm lý lo lắng ảnh hưởng, thực sự thấy khuôn mặt Thái hậu tái nhợt, như là… quả thực có chỗ không khỏe.
Nhưng chỉ thấy Thái hậu cười nhạt, ngữ khí bình thản: “Mới rời giường, lúc lạnh lúc nóng, không có gì đáng ngại.”
Nhưng Đường Oanh thực không yên lòng: “Con truyền Y chính tới bắt mạch cho ngài.”
“Được.”Bàn tay vốn đang bị Đường Oanh nắm chặt, Thái hậu chợt rút tay về. Lại vỗ vỗ vai người kia: “Không còn sớm nữa, nên vào triều thôi. Hôm nay Báo Quốc tự nấu tiệc chay, tối nay nhớ tới dùng bữa.” Làm nghi thức đỡ đầu rồi, tuy nói cũng chỉ là hình thức, thế nhưng cũng nên thành tâm một chút, nên dùng đồ chay mỗi tháng một lần.
Từ khi đăng cơ cho tới nay, ngày này qua ngày khác đều bận bịu vội vã, mỗi lần có thể dùng bữa với Thái hậu đều là một cơ hội đáng quý.
“Con nhất định sẽ tới.”
– —
Tuyết lành là điềm báo năm ấy sẽ được mùa. Cuối năm ngoái cửu châu đều báo về, có xuất hiện đại tuyết, hoặc là tiểu tuyết, tuyết lớn tuyết nhỏ, đều là có tuyết xuống. Quả thế, mùa vụ năm nay bội thu, ruộng đất nơi nào cũng được mùa, thuế má cũng đầy đủ. Triều đình giàu có, dân chúng ăn no mặc ấm, không có tâm phản loạn. Thêm một năm mưa thuận gió hòa.
Không có việc lớn gì đáng lao tâm, chỉ là các Ngự sử được điều xuống các châu để tuần sát giám sát, nay không biết vì lí gì mà lần lượt hồi kinh, thượng bẩm tình tình nơi mà mình thị sát. Bố Chính sứ của các châu, dĩ nhiên không hoàn toàn trong sạch thanh bạch, thế nhưng cũng không trắng trợn cướp đoạn mồ hôi nước mắt của bách tính. Các phiên vương, hầu tước ở các châu cũng an phận thủ thường.
Lỗi nhẹ phạt nhẹ, lỗi nặng phạt nặng, xưa nay vẫn vậy.
Đường Oanh nhìn mấy vị Ngự sử đang đứng phía dưới, đột nhiên hỏi: “Lưu Cư không ở đây?” Lưu Cư là Tiến sĩ năm Cảnh Ninh nguyên niên, là nhân sĩ của nàng, nhậm chức Ngự sử ở Đô Sát viện, sau được điều đi Ung Châu tuần tra sát hạch. Ung Châu cách Yến Kinh không xa, Ngự sử ở khắp cửu châu xa xôi ngàn dặm đều đã ở đây, vậy mà không có Lưu Cư.
Mấy vị Ngự sử đưa mắt nhìn nhau, biểu tình mờ mịt, hiển nhiên, bọn họ cũng không biết Lưu Cư hiện đang ở nơi nào. Lát sau có một người chấp hốt bước lên, kính cẩn: “Lưu Cư có thân thích ở Ung Châu, có lẽ có chút gia sự, chậm trễ mấy ngày.”
Kiểu nói chuyện thế này, đương nhiên là Hoàng đế không tin. Lưu Cư trọng quốc sự, khinh gia sự, há lại có thể vì gia sự mà trì trệ quốc sự? Nhưng nàng cũng không muốn làm khó bọn họ, vả lại, bọn họ cũng không quen thuộc với Lưu Cư.
Bèn cười ôn hòa, nói: “Lặn lội đường xa mệt nhọc, chư khanh đều tận tụy vì xã tắc như thế, có công lao có cả khổ lao, trẫm yên lòng.”
Ngự sử quỳ gối: “Là chức trách của thần, Bệ hạ quá khen!”
Tứ hạ ân thưởng, ai nấy trở về vị trí cũ. Những người còn lại, vô sự bãi triều.
Đường Oanh hiểu tính nết Lưu Cư, dù cho có chuyện chậm trễ, với tính cách của Lưu Cư, nhất định sẽ cho trạm dịch hồi kinh báo tin, không thể nào vô thanh vô tức như vậy được.
Có lẽ, đã xảy ra chuyện rồi.
Càng nghĩ ý niệm này càng trở nên rõ ràng.
Chính là khi ấy, Đường Oanh ở Tuyên Thất điện, cùng với Tiêu Thận, Tô Nhiếp, Nhan Linh, Lý Tập, thương nghị chuyện miễn giảm sưu thuế. Lý Tập người này là Đại học sĩ Hàn Lâm viện, cựu thần hai triều, có thực tài, đức cao vọng trọng, năm xưa Tiên đế đăng cơ lúc tuổi còn nhỏ cũng chính là giúp đỡ truyền thụ phương lược trị quốc.
Hoàng đế chưa tự chấp chính, tả hữu cận thần trong Lục bộ, nếu không có công vụ thì ban ngày sẽ thường túc trực trong cung, thuận tiện cho việc Hoàng đế truyền triệu, hoặc có chính sự cần thương thảo. Việc hôm nay không phải là công vụ Hộ bộ Thượng thư Nhan Linh trực tiếp quản lý, nhưng Hộ bộ quản cả mục hiệp thương sưu thuế, hắn vẫn là nên tới.
Lãnh thổ Tấn triều không nhỏ, các nơi thổ nhưỡng bất đồng, có đất lành phì nhiêu cũng sẽ có nơi đất cằn cỗi, trưng thu thuế má, sung quân nô dịch cũng cẩn phải hợp thời, hợp đất đai tùy vùng, cần phải tùy cơ ứng biến. Giảm miễn sưu thuế là chuyện nên làm, nhưng phải xét tới nơi nào nên giảm nơi nào nên giữ, nếu giảm thì giảm bao nhiêu. Mọi việc đều phải nghị sự, phải xem cả thái độ của dân chúng, chiếu theo tiền lệ, lại xét tình hình thực tế. Một quyết định phải đi qua nhiều quá trình.
Chư công trong điện lúc này, bình thường khác đảng khác phái, đến lúc đối diện với quốc gia đại sự cũng phải buông bỏ hết thành kiến, ai nấy tâm bình khí hòa, vừa thương nghị bàn luận, vừa báo cáo đề xuất với Hoàng đế, cũng chỉ mong, hốt thuốc cho đúng bệnh.
Thương lượng nghị sự đi tới hồi kết, cuối cùng cũng hạ được phương án, liền giao cho Nhan Linh viết tường án. Đợi chiếu lệnh ban cáo thiên hạ, vừa có thể mượn đợt miễn giảm sưu thuế này tỏ phong phạm minh quân, lại vừa có thể giúp bách tính bớt phần gánh nặng, củng cố dân tâm. Chuyện trị quốc an dân, chính là cần những nước đi như vậy.
Một phen bận rộn căng thẳng, chuyện của Lưu Cư, Đường Oanh tạm gác lại nghi vấn trong lòng. Chư công cáo lui, Hoàng đế cũng bắt đầu Ngọ thiện.
Sau Ngọ thiện, Hoàng đế cho truyền Y chính tới, muốn hắn báo cáo mạch tượng của Thái hậu. Y chính báo rằng Thái hậu cảm lạnh, đã kê thuốc, cứ đúng hạn uống thuốc, chẳng mấy chốc sẽ trừ hết khí lạnh trong cờ thể. Y chính là người vừa có y đức, là người đáng tin, hắn đã nói như vậy, nàng cũng không nghĩ ngợi nhiều nữa, chỉ dặn dò mỗi ngày đều phải tới bắt mạch, kiểm tra thuốc thang.
Sau đó, chính là tới giờ đến Văn Hoa điện dự giảng. Sau khi dự giảng ở Văn Hoa điện, nàng phải tới Võ Anh điện, lại nghĩ tới tối nay sẽ tới Vị Ương cung dùng cơm, liền về Tuyên Thất điện sớm hơn thường ngày một chút, thay nhung trang, chuẩn bị chu toàn. Một hồi không ngừng, cuối cùng cũng xong xuôi, bắt đầu di giá Vị Ương cung.
“A nương.” Đường Oanh đang nhanh bước vào điện, bước chân nhanh mà không hề lỗ mãng, nhẹ đi lướt trên gió. Nàng đi vào, đột nhiên nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, bước chân cũng lập tức dừng lại. Trong điện, ngoài Thái hậu còn có một nam nhân lạ mặt, bàn tay hắn nắm lấy cổ tay trắng nõn gầy gò của Thái hậu. Cử chỉ không e dè kiêng kị như thế, ắt là quan hệ phải thân mật hơn bình thường rất nhiều.
– — Hết chương 38 —